Xem ngayHỗ trợ miễn phí bởi Dreamlib.vn

Thư viện trường học ở Australia

Niên giám Australia năm 2003 đưa ra con số thống kê rằng tại thời điểm tháng 8-2001 có 9.596 trường học ở Australia. Có thể khẳng định rằng tất cả các trường này đều có một thư viện và một hoặc vài nhân viên của trường phụ trách thư viện. Đây trước hết là thành quả của Hội Thư viện Australia (LAA), tiền thân của Hội Thông tin Thư viện Australia (ALIA) và các nhóm nghề nghiệp khác như Hội Thư viện Trường học Australia (ASLA). Tuy nhiên, nếu như ASLA và các nhóm nghề nghiệp thuộc bang đóng góp vai trò đáng kể của mình trong việc phát triển thư viện trường học và phát triển cán bộ thì việc tồn tại các hội nghề nghiệp này cũng đóng góp vào phong trào của Hội Thư viện Australia trong những năm 1960 nhằm mục tiêu tăng cường sự phát triển của thư viện trường học tại Australia.

Nền tảng

Vào đầu những năm 1960, không thư viện trường học nào ở Australia được xem là trung tâm trong hoạt động học tập. Một số cuộc điều tra của các thư viện đã hướng sự chú ý của công chúng tới sự thiếu vắng của các dịch vụ thư viện cho trẻ em ở Australia tại các thư viện trường học hay thư viện công cộng. Vào năm 1966, việc xuất bản cuốn sách của Fenwick có nhan đề “Thư viện trường học và thư viện trẻ em ở Australia” đã tiếp thêm vào nỗ lực trong việc buộc chính phủ phải chi thêm ngân sách cho các thư viện trường học, tiếp theo quyết định của chính phủ của thủ tướng Menzies trong việc cấp ngân sách cho việc thành lập các phòng thí nghiệm tại các trường cấp 2. Với lời mời của LAA, giáo sư Sara Fenwick thuộc Đại học Chicago đã thăm Australia năm 1964. Chuyến thăm kéo dài 6 tháng của bà đã không chỉ nêu ra những khoảng cách giữa thực tế và tiềm năng phát triển của các thư viện Australia mà còn gây được sự chú ý của công chúng đến vấn đề này thông qua các buổi diễn thuyết và bài giảng cho công chúng. Dựa trên nền tảng này, LAA đã xuất bản tài liệu “Tiêu chuẩn và Mục tiêu cho Thư viện Trường học” vào năm 1966. Thành quả của việc này cùng với các sáng kiến khác là chính quyền liên bang đã dành 27 triệu đô la Australia cho việc xây dựng và trang bị các thư viện trường học cấp 2 trong giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1971.

Một trong những lý do dẫn đến sự hào phóng của liên bang trong việc chi tiền cho thư viện trường học, đó là việc xuất bản cuốn sách của Margaret Trask có nhan đề “Lập kế hoạch cho các thư viện trường học Australia”. Cuốn sách này ghi lại những ý kiến đưa ra trong cuộc thảo luận tổ chức vào năm 1969 cho LAA phối hợp với Đại học bang New South Wales tổ chức, khi đó Margaret là cán bộ thư viện lâu năm của thư viện Đại học này. Trong cuốn sách này, ta có thể tìm thấy thông điệp nền tảng về mục tiêu của giáo dục phổ thông, những mô hình học tập cũng như tính chất của dịch vụ thư viện và vai trò then chốt của cán bộ thư viện trường học. Những thông điệp này hiện vẫn giữ vai trò nền tảng trong ấn phẩm gần đây của ALIA và ASLA có tên gọi “Học tập vì tương lai”, xuất bản năm 2001.

Vào năm 1969, khái niệm kiến thức thông tin đã được manh nha trong một tuyên bố trong đó coi một trong những mục tiêu của giáo dục là làm cho học sinh biết được “làm thế nào để thu thập được thông tin, sử dụng thông tin để giải quyết vấn đề… và biết đánh giá sự phù hợp cũng như hữu ích của thông tin”. Việc học được coi là trung tâm, hơn là việc giảng dạy của giáo viên. Điều quan trọng là phải “tạo cơ hội cho việc tự học tập và nghiên cứu của cá nhân… Học sinh cần tự học với những nguồn tài liệu và sách tra cứu cơ bản… họ cần truy cập tới nhiều tài liệu khác nhau và sẽ hưởng lợi từ những mô hình học tập khác nhau”. Thư viện vẫn chỉ là một nơi học tập, nhưng những dịch vụ mà nó cung cấp thì phải vượt ra khỏi khuôn khổ tòa nhà. Thư viện phải là nơi điều phối hoạt động giảng dạy và học tập cho một cộng đồng cụ thể. Đó là trung tâm cung cấp các chương trình cho lớp học… Nó phải là nguồn cung cấp các phương tiện học tập”. Cuối cùng, vai trò của cán bộ thư viện cũng được xác định. Cán bộ thư viện cần phải hiểu rõ mục tiêu của giáo dục và quá trình giáo dục diễn ra như thế nào… cũng như kiến thức về các loại hình tài liệu… Thế nhưng tác động lớn nhất phải đến từ lý tưởng của người cán bộ thư viện, cách nhìn nhận của họ đối với bản thân nghề nghiệp của mình chứ không phải là từ các công nghệ của thư viện.

 

Những chủ đề trên vẫn liên tục là trung tâm trong các cuộc thảo luận về vai trò của người giáo viên thư viện chuyên nghiệp (teacher librarian) tại Australia. Thuật ngữ này đã thay đổi theo thời gian, nhưng bản chất thì không thay đổi: sự phát triển của học sinh để trở thành những người có kiến thức thông tin, trở thành những người học độc lập; việc dạy học phải dựa trên nguồn tin, cho phép “học sinh học tập từ chính những kinh nghiệm tiếp cận của bản thân tới các nguồn thông tin”; “dịch vụ thư viện trường học phải được lồng ghép vào tất cả các hoạt động dạy và học tại thời điểm người học có nhu cầu thông tin và việc quản lý các dịch vụ này phải do một giáo viên thư viện chuyên nghiệp đảm trách”. Trong báo cáo của mình, Fenwick thậm chí đã manh nha một thuật ngữ khác đang được sử dụng phổ biến hiện nay, đó là “học tập suốt đời”, khi bà viết “cả thư viện trường học lẫn thư viện công cộng sẽ chịu trách nhiệm đối với việc học sẽ kéo dài suốt cuộc đời mỗi con người”.

Có một lỗ hổng rõ ràng trong việc cấp ngân sách hào phóng trong năm 1968 của chính phủ liên bang, đó là thiếu ngân sách cấp cho thư viện các trường tiểu học và cho việc đào tạo giáo viên thư viện. Tại thời điểm đó, tiền được cấp cho cả 2 cấp học là trung học và tiểu học, và việc tách riêng ngân sách cho thư viện 2 cấp học này chỉ được thực hiện vào năm 1973. Sự phát triển mạnh mẽ vượt bậc trong việc chi tiền xây dựng, mua sắm tài liệu và bố trí cán bộ thư viện tại các trường học khắp Australia đã diễn ra liên tục cho đến tận năm 1977 khi mà ngân sách cấp phát cho thư viện trường học bắt đầu giảm dần.

Trong giai đoạn từ 1968 đến 1976, Margaret Trask có tác động lớn nhất đối với các thư viện trường học của Australia. Trước tiên, bà là thành viên của Hội đồng Thư viện Trung học khối Thịnh vượng chung từ năm 1968 đến năm 1973, và với vai trò đó, bà đã thăm nhiều thư viện trường học để đánh giá về nhu cầu đối với thư viện và dịch vụ thư viện và kiến nghị với chính phủ về việc cấp ngân sách cho các thư viện. Thứ hai, bà là thành viên của Hội đồng các Trường học Australia từ năm 1974 đến 1975, một cơ quan liên tục hỗ trợ các thư viện trường học. Bà toàn tâm toàn ý cho việc quảng bá thư viện trường học từ giữa những năm 1960 đến giữa những năm 1970, là một người đầy nhiệt huyết và là nhà hoạt động thư viện năng nổ. Đóng góp một cách tích cực trong giai đoạn quyết định này, sau đó bà đã sử dụng khả năng tuyệt vời của mình sang một lĩnh vực mới của cuộc chiến, đó là thư viện công cộng.

Sự phát triển

Tổng kết tác động của 20 năm ngân sách của chính phủ cho thư viện trường học kể từ năm 1969, người ta đã tính rằng 200 triệu đô la Australia đã được cấp trong phạm vi toàn liên bang, cộng với số tiền tương đương do các bang và địa phương đóng góp, như vậy tổng số tiền là hơn 400 triệu đô la. Và không có gì phải ngạc nhiên khi kết quả đạt được thật là ấn tượng. Vào cuối năm 1977, ước tính có khoảng 65% trường cấp 2, chiếm khoảng 80% tổng số học sinh cấp 2, có thư viện đạt chất lượng đáng kế, có thể là một tòa nhà thư viện mới xây dựng, hay là các trang thiết bị được nâng cấp. Tuy nhiên, 7.200 thư viện trường tiểu học vẫn chưa có thay đổi đáng kể gì. Và có thể tự tin mà nói rằng tất cả các trường học cấp 2 của Australia đều có thư viện và hầu hết đều là mới thành lập.

Khi ngân sách cấp cho việc xây dựng cơ bản và cơ sở vật chất ban đầu đã được giải ngân xong, việc phát triển thư viện trường học lại diễn ra dưới hình thức khác. Trong suốt những năm 1980, việc duy trì các thư viện trường học cùng với tài nguyên và cán bộ thư viện đã trở thành một phần trong ngân sách định kỳ của các nhà lãnh đạo giáo dục, định hướng sử dụng và việc thay đổi là do các giáo viên thư viện tự quyết định. Phần lớn giáo viên thư viện là các giáo viên có chuyên môn. Vị trí mà ASLA đạt được ngày hôm nay là: các cán bộ chuyên nghiệp phụ trách thư viện phải là những người đạt được chứng chỉ chuyên môn của 2 lĩnh vực là giáo viên và thư viện. Trong khi người ta còn nghiêng nhiều về chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục, và điều này đặc biệt đúng ở Mỹ và Canađa, việc đạt được vị trí này như là một điều hiển nhiên tại Australia là một thành tựu đáng kể. Việc thiếu nhân viên phù hợp xảy ra ở khắp Australia, và các nhà quản lý giáo dục cho rằng sẽ tiết kiệm thời gian hơn nếu đào tạo một giáo viên trở thành cán bộ thư viện hơn là trang bị cho cán bộ thư viện những kiến thức sư phạm.

Các cơ quan giáo dục đại học cũng thay đổi rất nhanh cho phù hợp với tình hình, trước hết là các trường sư phạm, sau đó là các trường đại học liên tục mở ra các khóa đào tạo giáo viên thư viện. Những khóa đầu tiên do những cá nhân tiên phong khởi xướng như Joan Brewer ở Nam Australia, sau đó Margaret Trask mở một khoa thư viện mới ở trường sư phạm cao cấp Kuring-gai ở Sydney vào năm 1974. Giáo viên thư viện là một thành phần quan trọng trong các chương trình sư phạm cải cách. Kể từ đó, có một điều đã trở thành thông lệ là người phụ trách thư viện trường học Australia phải trở thành giáo viên thư viện theo định nghĩa của ASLA. Tuy nhiên cũng có một sự thật là nhiều giáo viên thư viện tạm thời chỉ có kỹ năng sư phạm, và cũng có một số thư viện trường học được điều hành bởi các nhân viên bán chuyên nghiệp.

Nếu như chiến dịch diễn ra trong những năm 1960 và 1970 là nhằm thiết lập dịch vụ thư viện trường học thì vào những năm 1980, hệ quả của việc trang bị cho họ những nguồn lực cần thiết với sự hiện diện của thư viện là đã có phong trào nhằm thay đối cách dạy và học của học sinh và giáo viên. Những truyền thống của Hoa Kỳ, được chuyển giao thông qua chuyên môn của Sara Fenwick, đã tạo nên khái niệm của Australia về việc thư viện trường học cần phải họat động như thế nào. Hiện tại, 2 người Canađa là tiến sĩ Haycock và phu nhân của ông đã tạo nên một trường phái về chính sách và chiến lược mới qua đó các giáo viên thư viện Australia có thể hợp tác với giáo viên trong việc thiết kế các chương trình giảng dạy và học tập dựa trên tài liệu có sẵn.

Không thể đánh giá về mặt số lượng những thành quả đạt được thông qua sự nhiệt tình và năng lượng lớn lao và những giáo viên thư viện Australia đã đầu tư vào việc quảng bá và thực hiện việc thiết kế và giảng dạy các các chương trình phối hợp (CPPT). Người ta có thể nhìn thấy rõ ràng khá nhiều thành công trong việc thay đổi cách sử dụng nguồn thông tin của cả giáo viên và học sinh. Một số khác thì chỉ đạt được thành công phần nào. Để có thể làm rõ tác động của các nỗ lực của giáo viên thư viện so với các yếu tố khác thì có thể thấy là không thể thực hiện việc thay đổi giáo trình giảng dạy và học tập nếu không có những nghiên cứu liên tục và nghiêm túc về lĩnh vực này. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng việc giáo viên thư viện tham gia vào các cuộc hội thảo, các chương trình tập huấn, các buổi thảo luận trong những năm 1980, 1990 xung quanh chủ đề CPPT đã mang đến sức sống và vai trò mới đối với sự phát triển của nghề giáo viên thư viện, và điều này đã làm phong phú thêm việc giáo dục học sinh và nâng cao nhậnt thức cho các giáo viên khác.

Cùng lúc đó bản thân các giáo viên thư viện cũng ngày càng nhận thức được rằng sự hữu hiệu trong các chương trình của họ phụ thuộc vào khả năng thuyết phục giáo viên cách sử dụng tài nguyên thư viện hữu hiệu hơn. Họ cũng hiểu rằng không có gì khó thay đổi hơn là việc thay đổi cách dạy và học của giáo viên và học sinh vì cả hai yếu tố này bị tác động sâu sắc bởi đặc điểm cá nhân, niềm tin và thói quen của mỗi người cũng như bị tác động bởi chính sách của các cơ quan quản lý giáo dục. Bản thân các tranh luận mang tính giáo dục không bao giờ là đủ, đó là bài học mà một số cán bộ thư viện đại học đang quảng bá chương trình kiến thức thông tin tại các trường đại học đã và đang rút ra cho bản thân.

Trên hết, các giáo viên thư viện hiểu rằng nếu họ không thể thuyết phục được các cán bộ quản lý giáo dục cấp cao của trường, nhất là hiệu trưởng, về vấn đề của họ thì tác động tích cực của họ đối với việc học tập và giảng dạy sẽ là rất hạn chế bất chấp họ đã nỗ lực ra sao. Gần đây đã có một nghiên cứu hỗ trợ cho thực tế này, trong đó nêu rõ: cùng với giáo viên thư viện, hiệu trưởng sẽ quyết định số lượng các chương trình đào tạo kỹ năng thư viện cho học sinh… bởi vì họ phải tác động và kiểm soát tất cả các yếu tố được coi là liên quan đến chất lượng đầu ra và kỹ năng của học sinh.

Tình hình hiện nay

Kể từ giữa những năm 1990, các thư viện trường học Autralia đã phải đối mặt với một cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các đơn vị trong bản thân từng trường cũng như trong cuộc cạnh tranh chung để được cấp ngân sách cho hoạt động của mình. Việc chứng minh tầm quan trọng của dịch vụ thư viện trường học về mặt số lượng đầu ra không phải là một việc đơn giản. Các chức năng và dịch vụ của thư viện trường học cần phải được gia tăng giá trị và phải được làm cho phong phú trong các chương trình giảng dạy hoặc hướng tới kết quả có thể đánh giá được thông qua các tiêu chí cụ thể. ASLA đã đáp lại bằng việc đưa ra một bản báo cáo có tên gọi “Tác động của thư viện trường học đối với kết quả học tập của học sinh: Tổng kết các nghiên cứu”. Bản báo cáo bắt đầu với việc nêu lên những yếu tố cần xem xét đánh giá kết quả học tập cũng như khái niệm “kết quả đạt được của học sinh” là bao gồm nhiều yếu tố. Bài viết kết luận rằng ở nơi nào có chương trình và dịch vụ thư viện trường học tốt cùng với một cán bộ thư viện chuyên nghiệp làm việc cả ngày có người hỗ trợ và có mạng máy tính tốt giữa nguồn tài nguyên thư viện và lớp học thì kết quả học tập của học sinh sẽ cao hơn bất kể điều kiện kinh tế xã hội và trình độ học vấn của người lớn ở khu vực đó như thế nào. Tuy nhiên bối cảnh của báo cáo là ở Hoa Kỳ và đây là điểm yếu chính của nó. Tuy nhiên, dù sao thì bản báo cáo cũng cung cấp một nền tảng qua đó có thể đưa ra một vài trường hợp cụ thể tương tự tại Autralia. Cùng thời gian này thì cũng đã có đóng góp quan trọng trong việc đưa ra những lời khuyên đối với cán bộ thư viện trong việc làm thế nào để thực hiện các chiến lược giảng dạy hiệu quả.

Một vấn đề nữa mà các cán bộ thư viện quan tâm đó là vấn đề bố trí cán bộ tại các thư viện trường học, cả cho hiện nay và trong tương lai. Có những nghiên cứu cho thấy hiện nay thiếu những dữ liệu toàn diện và có hệ thống về thư viện trường học khiến cho khó có được một bức tranh chính xác về xu hướng phát triển của cả quốc gia trong việc bố trí cán bộ thư viện trường học. Theo nghiên cứu này thì lợi thế của giáo viên thư viện trường học cũng không kém so với những giáo viên của trường. Nói chung, vấn đề này phụ thuộc nhiều hơn ở khâu đào tạo giáo viên và giáo viên thư viện và là trách nhiệm của cơ quan quản lý giáo dục cấp bang, nơi chịu trách nhiệm lập kế hoạch và tuyển chọn nhân viên cho các trường học. Tuy nhiên, trách nhiệm này lại được phân chia giữa các cơ quan khác nhau, vì vậy kết quả là dữ liệu bị xé nhỏ và được thu thập và thống kê theo những cách khác nhau.

Và người ta cũng dự báo rằng trong tương lai việc cung cấp đủ giáo viên cho các bộ môn cũng như giáo viên thư viện là một thử thách, bởi vì trong những năm cuối thế kỷ 20, đã có sự suy giảm tới 50% số giáo viên thư viện được đào tạo ở bang Tasmania, trong khi ở Melbourne, thành phố lớn của Autralia, số giáo viên thư viện được đào tạo chuyên nghiệp trong các trường tiểu học đã giảm từ 55% xuống còn 30%. Nhiều cán bộ thư viện trường học chỉ đơn thuần là những giáo viên đã có bằng cấp sư phạm mà không có thêm bất kỳ sự đào tạo nào về chuyên môn thư viện. Ở Nam Autralia, có nhiều thư viện dường như được quản lý bởi các kỹ thuật viên thư viện hoặc là các cán bộ không có chuyên môn gì về sư phạm hoặc thư viện. Điều này có thể diễn ra ở nhiều nơi khác, trừ bang New South Wales, nơi theo báo cáo là giáo viên thư viện hợp tác với giáo viên trong quá trình giảng dạy trực tiếp cho học sinh (REF). Mặc dù các giáo viên thư viện có thể không sử dụng hoàn toàn hữu ích thời gian của họ theo cách này nhưng điều này giúp thuyết phục hiệu trưởng về vai trò quan trọng của họ trong đội ngũ cán bộ của trường.

Các giáo viên thư viện ở Autralia mặt khác cũng đã cao tuổi. Theo một nghiên cứu vào năm 2003 thì vấn đề nhân lực có trình độ và được đào tạo bài bản không chỉ đơn thuần là vấn đề cung và cầu. Nghiên cứu này nêu nguyên nhân của việc mở lại khoa giáo viên thư viện tại Đại học Canberra, được chuẩn bị cẩn thận và quảng bá rộng rãi trong sinh viên về việc dễ xin việc sau khi tốt nghiệp khoa này. Kết quả của những nố lực này cho thấy là thu hút học sinh tốt nghiệp cấp 3 theo học nghề thư viện là điều khó khăn. Một nghiên cứu nữa chỉ ra rằng trong nhiều trường hợp khi mà ở một số thư viện, những người không có chuyên môn quản lý thư viện trong khi giáo viên thư viện thì lại làm công tác giảng dạy như một giáo viên bình thường. Như vậy có thể thấy vấn đề không có giáo viên thư viện cho vị trí này thực chất là vấn đề bố trí đúng vị trí công tác.

Số liệu thống kê về việc bố trí cán bộ thư viện tại các trường học cũng thiếu dữ liệu ở tầm quốc gia. 20 năm sau khi chính phủ bắt đầu cấp ngân sách cho các thư viện trường học, các số liệu thống kê liên quan đến lĩnh vực này vẫn hầu như chưa có. Vào năm 1981, người ta có thể thu thập số liệu này thông qua cơ quan chuyên trách về thư viện tại các trường công lập của phòng giáo dục các bang, tuy nhiên hiện cơ quan này đã không còn tồn tại. Hơn nữa mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý giáo dục cấp trung ương và địa phương rất phức tạp. Hiện nay chỉ có thể có một bức tranh khái quát về thư viện trường học thông qua việc nghiên cứu các báo cáo và tư liệu của ASLA và hiệp hội giáo viên thư viện các bang. Thông qua các tư liệu này người ta chỉ có thể viết được các báo cáo rời rạc chứ không thể có được một bức tranh tổng thể. Mặc dù hiện đã có một số thay đổi nhưng những thay đổi này vẫn chưa diễn ra đúng mức.

Một điểm quan trọng nữa là các giáo viên thư viện Autralia hiện nay không có đủ thời gian để làm những nhiệm vụ chính của họ. Một trong những chuyên môn của họ là tạo ra những điểm truy cập phong phú tới tài liệu thư viện cho giáo viên và học sinh. Hiện nay với lượng thông tin phong phú cung cấp thông qua các hệ thống thông tin và công nghệ thông tin thì giáo viên thư viện muốn giáo viên và học sinh phải trở thành những người tiêu dùng thông tin có phê phán hơn là chỉ đơn thuần giúp họ tìm thông tin. Sự xuất hiện của nhiều nguồn thông tin trực tuyến khiến cho cộng đồng giáo dục cảm thấy ít phụ thuộc hơn vào giáo viên thư viện, với vai trò là người tổ chức các nguồn thông tin. Đại học Công nghệ Queensland đã có một công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ mới đối với vai trò của giáo viên thư viện và tìm ra rằng các công nghệ mới liên tục đòi hỏi phải có kiến thức, kĩ năng và khả năng thực hành mới về: truy cập và xử lý thông tin, kỹ năng về sử dụng công nghệ, hướng dẫn nhân viên sử dụng máy tính, chiến lược học tập và giảng dạy sử dụng Internet và các công nghệ khác, phối hợp hoạt động với cán bộ công nghệ thông tin, giáo viên và nhà quản lý giáo dục, các nhà cung cấp dịch vụ máy tính cũng như những nhân viên kỹ thuật khác.

Hiện nay, yêu cầu đối với vị trí giáo viên thư viện là phải đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau như quản trị trang web, quản trị mật khẩu mạng, quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho nhân viên, là nhân viên máy tính cũng như vai trò hướng dẫn sử dụng công nghệ cho giáo viên và học sinh mà không được bố trí thêm thời gian. Giáo viên thư viện cũng được trông đợi là phải hướng dẫn học sinh sử dụng Internet, hỗ trợ trong việc thiết kế và phát triển trang web, trợ giúp giáo viên trong quản lý trang intranet, hỗ trợ trong việc tìm kiếm dữ liệu, tải về các chương trình máy tính, phụ trách việc lưu trữ dữ liệu và bảo trì nói chung. Tất cả những việc này phải thực hiện song song với nhiệm vụ giảng dạy kiến thức thông tin. Một mặt, việc đảm nhiệm nhiều chức năng này chứng tỏ vai trò quan trọng của giáo viên thư viện đối với trường học song mặt khác họ không đủ thời gian cho nhiệm vụ chính của họ là phối hợp với giáo viên trong những chương trình giảng dạy dựa trên nguồn học liệu.

Tương lai

Tình thế này tạo thêm gánh nặng cho giáo viên thư viện trong việc chứng minh vai trò của họ đối với việc học tập các kỹ năng thông tin của học sinh, đặc biệt là khi giáo viên thư viện vẫn nhìn nhận kiến thức thông tin là một sản phẩm thư viện thuần tuý, sự kết hợp của cách tìm kiếm và sử dụng thông tin theo kiểu của thư viện. Vì vậy giáo viên thư viện cần phối hợp với giáo viên trong việc phát triển kiến thức thông tin của học sinh. Việc phối hợp với giáo viên là rất cần thiết vì giáo viên vẫn luôn cho rằng thành công và kết quả học tập của học sinh không liên quan gì đến thư viện. Việc sử dụng thông tin một cách hữu hiệu trong quá trình học tập của học sinh phải được đánh giá theo các tiêu chí được xây dựng một cách phối hợp giữa giáo viên và giáo viên thư viện.

Cũng cần phải nhìn nhận khách quan về những công cụ đánh giá phù hợp về tác động của thư viện đối với kết quả học tập của học sinh, đặc biệt là ở các cấp học cao hơn. Một nghiên cứu của Nam Phi đã không chỉ ra được tác động của việc sử dụng thư viện hiệu quả đối với kết quả học tập. Những khó khăn trong việc chỉ ra những thông số về số lượng và việc sử dụng thư viện trong những tiêu chí phức tạp để đánh giá kết quả học tập của học sinh đã làm cho việc này trở thành một thách thức.

Liệu giáo viên thư viện và thư viện trường học có biến mất không? Vào năm 1994, nhà nghiên cứu McKenzie đã nêu câu hỏi là liệu vào năm 2005 có còn thư viện như nó đang hiện hữu hay không? Thực tế đã cho thấy thư viện hiện nay đã thay đổi rất nhiều so với năm 1994, nhưng có lẽ thư viện sẽ không biến mất, ngay cả khi nó được chuyển đổi từ “một không gian” sang một “dịch vụ”. Vào năm 2001, Lees đã nhiệt tình thái quá khi nói rằng “hãy quên thư viện đi”, nhưng thứ mà bà quảng bá là một “dịch vụ thông tin phân cấp… trong đó ý tưởng về thư viện đã được phi tổ chức hóa”. Vẫn có rất nhiều người tin rằng vì hiện nay thông tin đã có sẵn với việc phổ biến của công nghệ thông tin và truyền thông, không cần phải có những chuyên gia làm trung gian giữa người sử dụng thông tin và nguồn tin. Tuy nhiên cộng đồng sẽ rất cần những chuyên gia hướng dẫn những người mới sử dụng biết cách tìm kiếm và sử dụng thông tin hiệu quả. Dù sao chăng nữa, với sự suy giảm số lượng giáo viên thư viện, sẽ là tốt hơn nếu mọi người bắt đầu đặt câu hỏi về sự hiệu quả quả việc sử dụng công nghệ thông tin và nguồn lực thông tin mà không có đủ số chuyên gia hướng dẫn cách sử dụng những phưong tiện và nguồn tin này. Như vậy, hàng tỷ đô la đầu tư vào công nghệ sẽ chưa được sử dụng hiệu quả, chưa thể biến thành trung tâm trong các lớp học.

Kể từ khi được thiết lập hơn 40 năm trước đây, các thư viện trường học Australia và những nhân viên của chúng đã phát triển dưới sức ép của sự thay đổi trong giáo dục, xã hội và công nghệ. Cam kết của các hội nghề nghiệp là dù có bất kỳ thách thức nào, sẽ luôn có những người giải quyết chúng vì lợi ích của học sinh Australia.

Sẽ là một thuận lợi lớn nếu các cán bộ thư viện trường học tiếp tục đóng góp vào việc phát triển thư viện trường học Australia dựa trên những gì mà Margaret đã thiết lập. Bất kỳ ai đọc những bài viết của bà cũng sẽ thấy chúng có đặc điểm là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tế. Bà luôn xác định mục tiêu, nhiệm vụ, vạch ra các ví dụ thực hành mang tính khả thi, sau đó bà sẽ chỉ ra những cách làm và cách đánh giá để làm sao đạt được các mục tiêu đó. Bà còn hướng dẫn cách lập những mục tiêu ngắn hạn, bao gồm cả việc xác định ai sẽ làm, làm như thế nào và khi nào. Làm việc vì các thư viện trường học, bà nhấn mạnh nhu cầu dịch vụ thư viện của trẻ em, vạch ra những đặc điểm của nghề thư viện phục vụ thiếu nhi, trong đó vạch ra những dịch vụ dành cho trẻ em đứng từ góc độ nhu cầu của các em, chứ không phải chỉ là một phần dịch vụ trong các thư viện công cộng hay thư viện trường học, điều chỉ phản ánh thực tế của người lớn chứ không phải là đối tượng mà họ phục vụ.

Ngày nay đường hướng mà Margaret vạch ra đang được các cán bộ thư viện công cộng và thư viện trường học phối hợp thực hiện để nâng cao chất lượng dịch vụ cho thanh thiếu niên Australia và điều này đang được khám phá lại. Quan hệ đối tác giữa các cán bộ thư viện cần phải đi xa hơn việc phối hợp để đạt được một vị thế nơi mà mọi yếu tố nghề nghiệp phải được xem như là một bộ phận liên quan đến những yếu tố khác. Họ hi vọng vị thế này sẽ đạt được trong một tương lai gần./.

Người dịch: Vũ Thị Nha, VDIC, Worldbank

Tác giả: Maureen Nimon

Nguồn: The Australian Library Journal — 2004, tháng 2 — volume 53 — issue 1

http://www.alia.org.au/publishing/alj/53.1/