Xem ngayHỗ trợ miễn phí bởi Dreamlib.vn

Web 2.0 với thư viện trường đại học

web-2-0-logosCông nghệ thông tin nói chung và Internet nói riêng đang phát triển với tốc độ chóng mặt từng ngày từng giờ. Nó đang tạo ra những thay đổi rất mạnh mẽ trong mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là nó đang đóng vai trò tạo ra những thay đổi cơ bản trong xuất bản và phổ biến thông tin tới công chúng. Nhờ có công nghệ web 2.0 mà dịch vụ thư viện đã thay đổi theo một diện mạo mới, giúp ích cho thư viện trong việc làm phong phú và nâng cao chất lượng các dịch vụ tra cứu trực tuyến của mình. Có thể tận dụng những tính năng công nghệ để kết nối và tăng cường giao lưu với người dùng tin thư viện, xóa đi nhiều khoảng cách ngăn trở để tạo ra một môi trường “tương tác” thực sự giữa thư viện và người sử dụng. Điều này gián tiếp tạo ra và nuôi dưỡng một môi trường tích cực cho chia sẻ tri thức giữa thư viện và người dùng.

Từ khóa: Web 2.0, RSS, Blogs, Mash-up, Nhắn tin nhanh, Wikis, Podcasts, mạng xã hội, dịch vụ tra cứu, Thư viện đại học

Được xem là một cuộc cách mạng trên thế giới mạng, thế hệ web mới có những thay đổi quan trọng không chỉ ở nền tảng công nghệ mà còn cả ở cách thức sử dụng – hình thành nên môi trường cộng đồng, ở đó mọi người cùng tham gia đóng góp cho xã hội “ảo” chứ không chỉ “duyệt và xem”. Người dùng giờ đây được tiếp xúc với nhiều dịch vụ trực tuyến cho phép họ tạo ra, thu thập, phân nhóm, thanh lọc, truyền bá, và xuất bản nguồn lực thông tin trên Internet tại chỗ và toàn cầu.

Mục tiêu đầu tiên của những người tiên phong xây dựng Internet là nhằm kết nối các nhà nghiên cứu và các máy tính của họ với nhau để có thể chia sẻ thông tin hiệu quả. Khi bổ sung World Wide Web (năm 1990), Tim Berners-Lee cũng nhằm mục tiêu tạo phương tiện cho phép người dùng tự do đưa thông tin lên Internet và dễ dàng chia sẻ với mọi người (trình duyệt web đầu tiên do Berners-Lee viết bao gồm cả công cụ soạn thảo trang web). Tuy nhiên, sau đó web đã phát triển theo hướng hơi khác mục tiêu ban đầu. Tuy có một số ngoại lệ nhưng thế giới Web 1.0 (thế hệ web trước Web 2.0) chủ yếu gồm các website “đóng” của các hãng thông tấn hay các công ty nhằm mục đích tiếp cận độc giả hay khách hàng hiệu quả hơn. Nó là phương tiện phát tin hơn là phương tiện chia sẻ thông tin. Chỉ đến gần đây, với sự xuất hiện của nhiều kỹ thuật mới như blog (hay webblog), wiki… web mới trở nên có tính cộng đồng (và cộng tác) hơn và trở nên gần hơn với sự kỳ vọng và khả năng thực sự của nó.

Vậy web 2.0 là gì?

Khái niệm Web 2.0 đầu tiên được Dale Dougherty, phó chủ tịch của OReilly Media, đưa ra tại hội thảo Web 2.0 lần thứ nhất do OReilly Media và MediaLive International tổ chức vào tháng 10/2004. Dougherty không đưa ra định nghĩa mà chỉ dùng các ví dụ so sánh phân biệt Web 1.0 và Web 2.0: “DoubleClick là Web 1.0; Google AdSense là Web 2.0. Ofoto là Web 1.0; Flickr là Web 2.0. Britannica online là Web 1.0; Wikipedia là Web 2.0. v.v…”. Sau đó Tim O’Reilly, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành OReilly Media, đã đúc kết lại 7 đặc tính của Web 2.0:

1. Web có vai trò nền tảng, có thể chạy mọi ứng dụng

2. Tập hợp trí tuệ cộng đồng

3. Dữ liệu có vai trò then chốt

5. Phần mềm được cung cấp ở dạng dịch vụ web và được cập nhật không ngừng

4. Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng

6. Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị

7. Giao diện ứng dụng phong phú (O’Reilly, 2005).

Khái niệm Web 2.0 đã thay đổi cách thức làm việc của thủ thư tra cứu. Thư viện hay trung tâm thông tin có trách nhiệm đảm bảo rằng người dùng của mình được phục vụ nhanh chóng và hiệu quả nhất có thể bằng cách sử dụng những công cụ phù hợp nhất.

Web 2.0  là một cách tiếp cận mới để sử dụng web như là một nền tảng nơi mà người dùng  cùng  nhau  tham  gia  vào  việc  tạo  ra,  chỉnh  sửa,  và  xuất  bản  thông  tin thông qua những công cụ hợp tác sáng tạo nội dung trên nền web. Web 2.0 liên quan tới người dùng không phải chỉ ở chỗ người dùng tạo ra nội dung mà người dùng giúp thu thập, tổ chức, mô tả, cập nhật, chia sẻ, truyền bá, sắp xếp lại, bình luận, hiệu đính, và đóng gói lại nội dung. Web 2.0 là một cuộc hội thoại trong đó người dùng có cơ hội để đánh dấu, nhận xét, và chia sẻ quan điểm về một số chủ đề, nguồn thông tin và  dịch vụ  thông  tin nhất định.  Nó là một kiến trúc tham dự trong đó những tương tác và đóng góp được khuyến khích. Điều đó có nghĩa là Web 2.0 hoàn toàn là nội dung do người dùng tạo ra nhờ khai thác trí tuệ tập thể.

Một số ứng dụng phổ biến của web 2.0 có thể kể đến như: RSS, Đánh dấu xã hội, Viết blog, mạng xã hội, website chia sẻ đa phương tiện, Wikis, mash-up.

 

web2

Hình 1: Mô hình tương tác ứng dụng của web 2.0 [7.]

Tác giả sẽ chỉ ra những ứng dụng đang được các thư viện trên thế giới áp dụng dưới đây.

Những ứng dụng web 2.0 trong dịch vụ tra cứu

Có nhiều ứng dụng Web 2.0 có thể sử dụng trong dịch vụ tra cứu và được độc giả đón nhận tích cực. Do mỗi trường đại học và cao đẳng có những mục tiêu khác nhau, việc ứng dụng công nghệ này tuỳ thuộc vào   từng   thư   viện   cho   phù   hợp   với   nhu   cầu   của   trường   mình. Đối   với   nhiều trường, dịch vụ tra cứu ở các thư viện đại học thường bao gồm nhiều khâu như trả lời yêu cầu tài liệu nghiên cứu, chuẩn bị tài liệu quảng bá thư viện, mở lớp hướng dẫn sử dụng thư viện, cập nhật và thông báo nguồn tài liệu mới, liên lạc với giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên,…

Nhìn vào các ứng dụng Web 2.0 mô tả ở phần trên, công nghệ này không hoàn toàn xa lạ với nhiều thư viện nhất là thư viện các trường đại học lớn trên thế giới, xong ở Việt Nam nó chưa thực sự phát triển. Những ứng dụng như nhắn tin nhanh, mạng xã hội, viết nhật ký điện tử (blogging) đã trở thành một phần hành tranh của cuộc sống hôm nay và vấn đề áp dụng trong môi trường thư viện nên được quan tâm.

Nhắn tin nhanh (Instant Messaging-IM)

Một trong những ứng phổ biến là nhắn tin nhanh hay dịch vụ tra cứu qua chat. Nhắn tin nhanh giúp người dùng kết nối với cán bộ thư viện trong thời gian thực không phụ thuộc vào thời gian và vị trí. Có nhiều ứng dụng miễn phí có thể tìm trên Internet như Yahoo (http://webmessenger.yahoo.com), Google Talk (http://www.google.com/talk), MSN Messenger, , AIM, ICQ, Gadu-Gadu, ngay cả IRCSMS.  Trong  số  những  thư  viện  sử  dụng  công  cụ  này  có thư viện ĐH Ohio (http://www.library.ohiou.edu/ask/skype.html) và Thư viện Đại học Bang Oregon (http://osulibrary.orst.edu/cascades/chat.htm).

Nhắn tin nhanh cũng có thể dễ dàng sử dụng được trên các thiết bị di động khiến cho dịch vụ này trở thành một ứng dụng phổ biết, đặc biệt là thế hệ người dùng hiện nay. Trong môi trường thư viện, cán bộ thư viện tra cứu có thể dùng ứng dụng này để trả lời câu  hỏi  hoặc  yêu  cầu  nhanh  qua  chát.  Nhắn tin nhanh  còn  có  thể dùng để  hướng dẫn bạn đọc tìm thông tin qua cuộc trao đổi ngắn. Mặc dù tìm thông tin và hỗ trợ trong giải đáp yêu cầu tra cứu là mục đính chính, nhắn tin nhanh cũng giúp xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa thủ thư và bạn đọc. Cả hai bên đều có thể sử dụng công cụ trung gian này để  trao đổi  quan điểm  và  kinh  nghiệm  quý  báu  và đó  cũng  chính  là  nơi để  lắng nghe độc giả và hiểu nhu cầu của họ.

Định dạng tệp tin (RSS)

RSS (Really Simple Syndication – RSS 2.0.0; Rich Site Summary – RSS 0.91; RDF Site Summary – RSS 0.9 and 1.0) là một công cụ hữu dụng khác mà thủ thư tra cứu có thể sử dụng. Công cụ này có sẵn miễn phí và có rất nhiều lựa chọn trên Internet. Những công cụ đọc dòng tin RSS phổ biến bao gồm Feed Digest (www.feeddigest.com), Google Reader (www.reader.google.com), Awasu Personal Edition (www.awasu.com). RSS là công cụ hữu ích giúp cập nhật cho bạn đọc về những chủ đề từ tổng hợp cho tới chuyên sâu.

Cán bộ  thư  viện tra  cứu  có thể  phát triển  nội dung  trên những  trang web  tập hợp thông tin từ những công cụ tìm kiếm và hiển thị nội dung mới nhất. Họ có thể lập danh mục những website hữu ích dùng làm nguồn tra cứu hoặc tạo ra những thư mục chủ đề trên website của thư viện. Thông qua những công cụ đọc tin này, trang web sẽ thường xuyên  hiển  thị  nội  dung  mới  và  nhờ đó  người  dùng  luôn được  cập  nhật. Ví  dụ  về những website áp          dụng  cách   tiếp    cận    này    là Daily Rotation ở địa chỉ www.dailyrotation.com cung   cấp   thông   tin   từ   hơn   300   website   kỹ   thuật   và Detod ở địa chỉ http://my.detod.com cung cấp thông tin về pháp luật.

Thư viện trên toàn thế giới cũng đã ứng dụng công cụ này. Thư viện Học viện Công nghệ Massachuset (http://libraries.mit.edu/help/rss/barton/) sử dụng dòng tin để thông báo về sách mới trên mục lục thư viện dựa trên chủ đề bạn đọc quan tâm. Thư viện này cũng thông báo cho bạn đọc về các nguồn tài liệu mới, chẳng hạn như luận án mới, và cung cấp những đường dẫn hữu ích cho nghiên cứu.

Phát thanh (Podcasting hoặc broadcasting,)

Có nhiều khâu trong dịch vụ tra cứu có thể sử dụng phương tiện phát thanh trên internet. Thủ thư tra cứu có thể sử dụng podcasting để chuẩn bị cho các buổi tham quan thư viện và tài liệu cho lớp dạy kỹ năng thông tin hoặc thông báo cho bạn đọc về tin tức và sự kiện trong thư viện. Công cụ này cũng phù hợp cho việc chuẩn bị các tài liệu hướng dẫn khác như hướng dẫn sử dụng cơ sở vật chất, dịch vụ và trang thiết bị. Cán bộ thư viện có thể tích hợp những bài thuyết trình bằng âm thanh này vào các bài thuyết trình trên Power Point để xuất bản  trên  Internet hoặc đưa  vào  blog. Một  số  ứng  dụng  miễn  phí  nổi  tiếng  trên Internet   để   làm   podcasting   là   Audacity   (www.audacity.sourceforge.net ) và   Odeo Studio  (www.studio.odeo.com)  và  các  thư  viện  ứng  dụng  công  cụ  này  có Thư  viện Anh (http://www.bl.uk/podcast) và Thư   viện   Đại    học    Ohio (http://www.library.ohiou.edu/vtour/podcast/). Thư viện RMIT đưa hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý thư viện cá nhân – Endnote trên Youtube như một nguồn tài liệu hướng dẫn người dùng: http://www.rmit.edu.au/browse;ID=np7zfn30nbsz;STATUS=A;PAGE_AUTHOR=Tanya%20Bramley;SECTION=3;

Đánh dấu xã hội (social bookmarking)

Đánh dấu xã hội có thể được xem là công cụ quan trọng nhất có thể được dùng trong dịch vụ tra cứu. Do bản chất công việc trong dịch vụ tra cứu là chuẩn bị tài liệu hướng dẫn, chỉ dẫn và các thư mục thông tin, đánh dấu xã hội đã trở thành công cụ chính để nâng cao hiệu suất của dịch vụ này. Chính nhờ đánh dấu xã hội, cán bộ thư viện có thể tập hợp được những nguồn tra cứu hữu ích và phát triển các thư mục chủ đề. Họ có thể lập các thẻ hữu dụng, xây dựng các nguồn lực thông tin dựa trên các danh mục tài liệu tra cứu, danh mục tài liệu nên đọc về các chủ đề cụ thể. Họ cũng có thể chia sẻ và cho phép những người khác bổ sung thêm các đường dẫn (URL) liên quan. Với những tính năng đó, cán bộ thư viện tra cứu có thể tập hợp quan điểm và kinh nghiệm từ nhiều người và chia sẻ những kiến thức này. Vì Web 2.0 là nội dung do người dùng đóng góp, không chỉ cán bộ thư viện mà cả những người khác, có hoặc không có kiến thức chuyên sâu về một chủ đề cụ thể, cũng có thể tham gia đóng góp và đánh dấu những website hữu   ích. Chính   những   nỗ   lực phối   hợp   từ   những   bạn   đọc   quý   báu   trong cộng đồng giảng  viên và  nhà nghiên  cứu  đã  làm  gia  tăng  giá  trị  trong việc  làm  giàu  thông tin. Mọi người khi thấy những nguồn thông tin đó là hữu ích sẽ mở rộng và đánh dấu trên danh  mục đánh dấu  xã  hội của  riêng mình.  Đánh dấu  xã  hội không chỉ giúp tập hợp những đường dẫn hữu ích mà còn tạo cơ hội để mô tả và phân loại những đường dẫn này vào   các   thư   mục   theo   chủ đề   cụ   thể   hoặc được   quan   tâm. Furl (www.furl.net) và del.icio.us (www.delicious.com) là hai trong số những ví dụ nổi bật cung cấp những tính năng này. Việc sử dụng đánh dấu xã hội đã từng được ứng dụng rộng rãi trong thư viện trên toàn thế giới. Chẳng hạn, ở Thư viện Đại học Pennsylvania (http://tags.library.upenn.edu/), cán bộ thư viện xây dựng riêng một công cụ đánh dấu xã hội để tập hợp và duy trì các đường dẫn, liên kết tới các bài viết tạp chí và biểu ghi trong  thư  viện.  Người dùng  cũng  có  thể  tải  xuống  từ  Internet một  thanh  công  cụ cho phép bổ sung nội dung đang xem vào danh sách đánh dấu xã hội của mình.

Nhật ký trực tuyến (Blog)

Đối với nhiều người, blog từ lâu đã từng là ứng dụng phổ biến để chia sẻ nhật ký nhật trực tuyến. Các thư viện cũng có thể tạo ra những nhật ký của riêng mình, chia sẻ tin tức và thông báo mới nhất tới bạn đọc. Thông tin về nguồn tài liệu mới, giờ mở cửa, các sự kiện và  biến cố có thể được chia sẻ bằng blog.  Trong dịch vụ tra cứu, cán bộ thư viện có thể quảng bá vốn tài liệu bằng cách tạo blog bình sách và khuyến khích bạn đọc cùng tham gia.  Một số phần mềm tạo blog cho phép cán bộ thư viện tạo ra các danh mục sách nên đọc bằng cách gắn blog của mình với Amazon.com. Thủ thư cũng có lập danh mục những cuốn sách nên đọc cho một chủ đề cụ thể và mời các giảng viên tham gia phát triển danh mục. Thông qua viết blog, cán bộ thư viện cũng có thể chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của mình trong quá trình tìm kiếm, chẳng hạn các mẹo tìm kiếm thông dụng trên một cơ sở dữ liệu hoặc bất kỳ một kho tài liệu chuyên biệt của mình.

Trong rất nhiều  ứng dụng,  blog được  cả  thư  viện và cán bộ  thư  viện sử dụng khá rộng  rãi.   Có  nhiều  blog  cá  nhân  được  cán  bộ  thư  viện  lập  nên  và  duy  trì  như  The Shifted                  Librarian     (www.theshiftedlibrarian.com)   và      Library      Crunch (www.librarycrunch.com). Các thư viện ở khắp nơi trên thế giới cũng có blog chính thức của riêng mình như              Business Blog của Thư viện Đại học Ohio (www.library.ohiou.edu/subjects/businessblog), blog của Thư viện Đại học bang Kansas (http://ksulib.typepad.com/),  blog  của  Thư  viện  Đại  học  Đa  phương  tiện  Malaysia (http://vlib.mmu.edu.my), Đại học Harvard (http://blogs .law.harvard.edu/cmusings/),  và của Đại học Malaya (http://vlib.um.edu.my) .

Công trình mở (Wiki)

Khác với blog, wiki cung cấp những nội dung mang tính trí tuệ dưới dạng bài viết hoặc thảo luận. Với wiki, thư viện có thể khởi xướng một chủ đề và mở rộng nội dung này dựa trên hồi âm và hưởng ứng của bạn đọc.  Một trong số những wiki về thư viện nổi tiếng  là Library Success: A best practice wikis (http://www.libsuccess.org/) nơi mà thủ thư trên toàn thế giới được khuyến khích chia sẻ những thành công của mình, trong khi  Library  Wikis  (http://librarywikis.pbwiki.com/)  lại  lập  danh  mục  về  những  wiki được  dùng  trong  thư  viện.  Các  thủ  thư  dịch  vụ  tra  cứu  có  thể  sử  dụng  wiki  để  viết hướng dẫn sử dụng thư viện, mẹo tìm kiếm và chia sẻ kinh nghiệm tìm kiếm thông tin.

Một ví dụ về wiki được thiết kế để cho dịch vụ tra cứu là wiki của Thư viện Đại học Oregon (http://instructionwiki.org).

Lọc dữ liệu (Mash-up)

Mash-up là một ứng dụng khác mà ở đó một nguồn lực thông tin được tạo ra từ hai hoặc nhiều dịch vụ web sẵn có.  Cán bộ thư viện  tra cứu có thể khai thác công cụ này để chuẩn bị cho các đợt quảng bá thư viện hoặc dựng video về thư viện. Họ cũng có thể sắp xếp lại (mash-up) nội dung về thư viện để tạo ra những dịch vụ mới sáng tạo. Trong những   ví   dụ   được   các   thư   viện   áp   dụng   có   Thư   viện   Công   cộng   Cambridge (http://www.cambridgelibraries.ca/hot/carousel.cfm) những dịch vụ tra cứu nhanh như Place‐Opedia (http://www.placeopedia.com/) kết hợp Google Map với các bài viết trên Wikipedia  và  Dogdott  (http://doggdot.us)  kết  hợp  các  dịch  vụ  đánh  dấu  xã  hội  như del.iciou.us, Slashdot and Digg.

Chia sẻ hình ảnh và video

Flickr (www.flickr.com) là một trong những ví dụ nổi tiếng về công cụ chia sẻ hình ảnh, trong khi YouTube (www.youtube.com ) là một ví dụ nổi tiếng về chia sẻ video. Ở Việt Nam có Upnhanh (www.upnhanh.com). Với việc chia sẻ hình ảnh, cán bộ thư viện có thể lập các triển lãm ảo để thông báo cho bạn đọc về các chiến dịch, diễn biến các sự kiện, tin tức,… Với những dịch vụ này, bạn đọc có nhiều cơ hội và cách thức để lấy thông tin từ thư viện mà không cần phải tới thư viện .

Các chương trình thăm quan thư viện, hướng dẫn tóm tắt, hướng dẫn kỹ năng thông tin, video giới thiệu về thư viện, cũng có thể sử dụng dịch vụ chia sẻ video. Những đoạn video này sẽ được truyền qua Interrnet hoặc tải lên trên YouTube. Video đó có thể truy cập được từ bất cứ đâu, bất cứ lúc nào và nhờ đó các dịch vụ của thư viện có thể được tô điểm và quảng bá tới người dùng một cách tiện lợi. Một trong những ví dụ về áp dụng công cụ này là Thư          viện   Quốc hội Mỹ

(http://www.flickr.com/photos/library_of_congress/), Thư      viện Đại  học       Winnipeg (http://cybrary.uwinnipeg.ca/)  và  Thư  viện  Đại  học  bang  CaliforniaSacramento (http://library.csus.edu/).

Mạng xã hội (social networks)

Thông  qua  các  mạng  xã  hội  như  Facebook  (www.facebook.com),   friendster (www.friendster.com) hoặc (http://www.linkedin.com)  cán bộ thư viện tra cứu có thể dùng nền công nghệ này để giữ liên lạc với bạn đọc của mình nơi bạn đọc có thể đăng tin tức, sự kiện, hình ảnh,… Cán bộ  thư  viện  có  tạo  được  liên  kết  cũng  như  học  được  từ  bạn  đọc  thông  qua  tìm  hiểu, phân tích và hiểu được quan điểm và cách nhìn của bạn đọc. Những  hồ sơ quý giá về bạn đọc này giúp cán bộ thư viện hiểu được nhu cầu và mối quan tâm của bạn đọc. Từ đó, sẽ dễ hơn cho cán bộ thư viện trong việc phục vụ bạn đọc bởi họ đã hiểu được nền học vấn, những khác biệt về văn hóa hoặc những thông tin khác có thể gây ra rào cản giữa hai bên. Cũng thông qua mạng xã hội, cán bộ thư viện có thể chia sẻ kinh nghiệm, quan điểm và kiến thức với bạn đọc và ngược lại. Trong các thư viện đã dùng ứng dụng này có Thư viện Anh Quốc (http://www.facebook.com/pages/The‐British‐Library/8579062138) và Thư viện Đại      học    bang  CaliforniaSacramento (http://www.facebook.com/pages/Sacramento‐CA/Sacramento‐State‐University‐Library/6716435962).

Các dịch vụ tổng hợp

Để nâng cao dịch vụ  tra cứu, thư viện có thể kết hợp và sử dụng nhiều ứng dụng Web 2.0 trên cùng một nền công nghệ. Chẳng hạn việc dùng đánh dấu xã hội có thể kết hợp với RSS để có những thông tin mới nhất và cập nhất trên website. Các blog cũng có thể  tích  hợp  RSS,  nhắn  tin  nhanh,  các  công  cụ  chia  sẻ  hình  ảnh,  video  và  phát  thanh postcasting để trở thành trang web tra cứu hữu ích. Một trong những ví dụ này có thể tìm thấy trên Internet là Blogtronix (www.blogtronix.com) nơi người dùng có thể tích hợp blog, wiki, âm thanh, văn bản, các dòng RSS và chia sẻ với tất cả mọi người.

Còn có rất nhiều công cụ dễ dàng tìm thấy trên Internet có thể ứng dụng một cách hữu ích cho dịch vụ tra cứu. Những công cụ này là công cụ đóng gói sẵn này có thể hữu ích trong công vệc tra cứu. Ví dụ, Slideshare (www.slideshare.net) là website dùng để chia sẻ các bài thuyết trình bằng powerpoint. Ở đây, cán bộ thư viện tra cứu có thể tải lên các tài liệu hướng dẫn kỹ năng, giới thiệu thư viện, …. và chia sẻ với bạn đọc. Một ứng dụng lý thú khác là chú thích các trang web như MyStickies (www.mystickies.com) nơi người dùng có thể chú thích các trang web và các chú thích này được lưu giữ cho tới khi bị xóa và ChaCha (www.chacha.com), một website hoạt động như dịch vụ ‘Hỏi thủ thư’.

Dưới đây là bảng tóm tắt những ứng dụng Web 2.0 có thể dùng cho dịch vụ tra cứu:

ng dụng

Web 2.0

Công cụ phổ biến

Dịch vụ tra cứu liên quan

Nhắn tin nhanh

Yahoo Messenger, Skype, Google talk, AIM…

Tra cứu qua chat, nhắn tin nhanh ngoại tuyến, tra cứu trực tuyến ảo

RSS

Blogline, Feed Digest

Cập nhật các nguồn tra cứu, thông báo tài liệu và dịch vụ mới

Podcast

Audacity, MP3, iTunes

Kiến thức thông tin, thăm quan thư viện, giới thiệu/hướng dẫn về thư viện.

Social Bookmarking

Del.icio.us, Furl

Các thư mục chủ đề

Blogs

Blogger,Wordpressb2evolution

Tin tức, sự kiện, thông báo tài liệu mới, điểm/bình sách, mẹo tìm kiếm

Wikis

Library Success, Library Wikis, Oregon Library Instruction wiki

Dạy kỹ năng thư viện, mẹo tìm kiếm, điểm/bình sách

Mash-up

Place‐Opedia, AllYourWords, Doggdot

Quảng bá thư viện, video giới thiệu thư viện

Chia sẻ hình ảnh

Flickr, Photobucket, Webshot

Triển lãm ảo, tuyên truyền, diễn biến sự kiện, tin tức cập nhật

Chia sẻ video

YouTube, Yahoo Video, Google Video

Thăm quan thư viện, hướng dẫn tóm tắt, kiến thức thông tin, video giới thiệu thư viện

Mạng xã hội

Facebook, Friendster

Sự kiện, hình ảnh, mẹo tìm kiếm, hồ sơ bạn đọc

 

Bảng 1: Ứng dụng Web 2.0 trong dịch vụ tra cứu [9.]

Thư viện đang tự chuyển mình cùng với sự phát triển của công nghệ bằng cách áp dùng những khía cạch tích cực của công nghệ vào trong các dịch vụ của mình. Với sự lớn mạnh của Internet, các thư viện đang cố gắng để nâng cao dịch vụ tra cứu của mình tới  mức  độ  ʺmọi  lúc  mọi  nơiʺ.   Công  nghệ  Web  2.0  cung  cấp   cho  dịch  vụ  thư  viện những giá trị gia tăng và giúp thư viện chứng minh nguyên lý của Ranganathan rằng ‘thư viện là một thực thể hữu cơ đang phát triển’ vẫn luôn luôn đúng .Tác động tích cực của công nghệ Web 2.0 đem lại lợi ích đồng thời cho cả thư viện và bạn đọc. Đối với thư viện, công nghệ mới , nếu biết sử dụng khôn ngoan, sẽ luôn nâng cao chất lượng dịch vụ và đạt được mục tiêp cung cấp những dịch vụ tốt nhất cho cộng đồng. Ở môi trường Web 1.0, nơi thiếu điều kiện để người dùng tham gia, sự gia tăng nội dung trí tuệ không thế nhiều đến thế.  Điều này đặt thư viện vào một tình huống mà ở đó họ không hiệu quả trong việc cung cấp những dịch vụ có thể đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc. Với sự phát triển của công nghệ Web 2.0 các dịch vụ thư viện hiện có giờ đây có thể được nâng cao tới mức độ bạn đọc có thể cùng tham gia.

May mắn thay, sự tham gia của người dùng đã gián tiếp cho phép thư viện mở rộng thêm tri thức mới bằng cách bổ sung thông tin hữu ích từ những bạn đọc khác nhau. Kết quả  là  nội  dung  được  dần  dần  làm  giàu  một  cách  tự  nhiên  và  phần  quan  trọng  nhất được những bạn đọc khác trong cộng đồng coi trọng.  Hòa theo những xu thế đương đại, thư viện cũng có thể hòa nhập với lối sống của giới trẻ hôm nay, giúp thư viện linh hoạt  và dễ được cộng đồng chấp nhận. Điều này gián tiếp tạo dựng một hình ảnh tích cực về dịch vụ thư viện tốt không chỉ đối với bạn đọc mà đối với cả cơ quan chủ quản.

Đối với bạn đọc, tác động tích cực nằm ngay ở trong dịch vụ. Nếu một thư viện cho phép sự tham gia của bạn đọc đủ ở mức cần thiết, không chỉ thư viện có lợi nhờ có được thông tin hữu tích miễn phí từ bạn đọc, chính bạn đọc cũng được hưởng lợi ích đó vì những kiến thức và kinh nghiệm của những người khác là quý giá.  Sự tham gia cũng sẽ tạo ra bầu không khí khiến bạn đọc cảm thấy rằng họ đã đóng góp cho thư viện và cộng đồng, từ đó tạo nên tinh thần làm chủ. Họ sẽ cảm thấy được tôn trọng và vinh danh bởi đóng góp của họ được coi trọng. Điều này sẽ gián tiếp nâng cao sự hài lòng của bạn đọc.

Đề xuất

Các ứng dụng Web 2.0 có triển vọng làm thay đổi cách thức cung cấp các dịch vụ thư viện  và  nguồn  lực  thông  tin hiện  tại  và  tương  lai.  Trong  khuôn  khổ  bài  viết  này tác giả chỉ  tập  trung  vào  việc đưa ra những dịch vụ  áp dụng Web 2.0 nhằm nâng cao, cải tiến và bổ sung cho dịch vụ tra cứu ở các thư viện đại học lớn trên thế giới. Những hoạt động phối hợp giữa cán bộ thư viện và nhà trường giúp khai thác trí tuệ tập thể, tạo ra tri thức mới và cung cấp những dịch vụ và nguồn lực thư viện hỗn hợp và phù hợp cho cộng đồng bạn đọc trong trường đại học. Những dịch vụ này giúp nâng cao hình ảnh và cách nhìn tích cực về các dịch vụ thư viện cũng như những người làm thông tin thư viện. Những giải pháp và ứng dụng của các thư viện đã và đang biến thư viện đại học  trở  thành  một  kho  tàng  chọn  lọc  của  thế  giới  tri  thức  nhằm  phục  vụ  giảng  dạy, nghiên cứu và phát triển của chính ngôi trường mình.

Tác giả đề xuất sẽ có những công trình nghiên cứu, những mô hình ứng dụng cho các thư viện đại học của Việt Nam và đưa web 2.0 vào trở thành một bài giảng cho sinh viên ngành thông tin thư viện nhằm hướng đến “thư viện 2.0” năng động và phát triển.

Thạc sĩ Hoàng Thị Thu Hương

Trường Đại học Quốc tế RMIT, chi nhánh Hà nội

Tài liệu tham khảo

(1) Bradley, P. (2007). How to use Web 2.0 in your library. London: Facet Publishing.

(2) Deitel, P. J., & Deitel, H. M. (2008). Internet & world wide web (4th ed.). New Jersey: Pearson Education International.

(3) Fiftarina Puspitasari et al (2007). “Social Navigation in Digital Libraries by Bookmarking”, in Asian Digital Libraries: Looking back 10 years and forging new Frontiers (ICADL 2007), Hanoi, Vietnam, December 2007, Springer, Germany, pp.297-307

(4) Linh,  N.  C.  (2008).  A  survey  of  the  application  of  Web  2.0  in  Australasian  university libraries, Library High Tech. (Vol. 26): Emerald Management Xtra Database.

(5) Maness, J. M. (2006). “Library 2.0 theory: Web 2.0 and its implications for libraries”, Webology, Vol. 3 No. 2, available at: http://www.webology.ir/2006/v3n2/a25.html (accessed 11 February 2009)

(6) O’Reilly, T. (2005). What is Web 2.0: design patterns and business models for the next

generation of software.

 

(7) Phương Uyên (2006). Công nghệ Web thế hệ mới – Portal và Web 2.0, http://www.viettotal.com/VietNews/CongngheWeb/tabid/88/News/23/CategoryID/1/Default.aspx

(8) Stephens, M. (2006). Exploring Web 2.0 and libraries, Library Technology Reports. Vol. 42

No. 4, pp. 8‐14 (accessed 12 February 2009), ProQuest.

 

(9) Yusop, Zulkefli Mohd and Abdullah, Fadzilah (2009). “Web 2.0 Applications Towards Enhancing Academic Libraries Reference Service”, in CONSAL 14 proceedings, Hanoi, April 2009, Vietnam, Văn hóa thông tin, pp. 273-284