Xem ngayHỗ trợ miễn phí bởi Dreamlib.vn

Lựa chọn và ứng dụng Khung phân loại LC tại thư viện trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

I. Lựa chọn khung phân loại

1.1 Lý do cần thiết phải thay đổi khung phân loại

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội là trường kỹ thuật đa ngành, đứng đầu về đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật trong khối các trường đại học kỹ thuật ở Việt Nam. Nguồn lực thông tin của thư viện phục vụ đắc lực cho công tác đào tạo của trường. Thư viện là nơi cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, về khoa học kỹ thuật công nghệ cho cán bộ giảng viên, sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo các nhà khoa học kỹ thuật, các kỹ sư tương lai của đất nước. Thư viện có vốn tài liệu lớn và chuyên sâu

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thông tin về kỹ thuật, công nghệ luôn được cập nhật, thay đổi từng ngày từng giờ, công nghệ ngày càng hiện đại hơn, có nhiều môn loại mới ra đời.

Bảng phân loại 19 lớp được Thư viện sử dụng từ khi thành lập đến nay đang bộc lộ nhiều bất cập: Thông tin về các ngành khoa học mới ít được cập nhật, cấu trúc khung phân loại có nhiều hạn chế về cơ cấu tổ chức các đề mục.

Nguồn tài liệu của thư viện gia tăng cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, cán bộ thư viện gặp nhiều khó khăn trong việc phân loại tài liệu

Năm 2006 khi Thư viện mới đi vào vận hành, hoạt động thư viện có nhiều biến chuyển theo hướng hiện đại hoá với nhiều sản phẩm thông tin và dịch vụ mới được triển khai, khung phân loại cũ không còn phù hợp với một thư viện hiện đại trong tương lai.

1.2 Một số khung phân loại đang thịnh hành

v Khung phân loại DDC: DDC ra đời vào năm 1876 có cấu trúc gồm 10 lớp chính dùng ký hiệu bằng số Ả rập với 3 con số và có 02 số 0 ở phía sau. Các lớp chính được chia nhỏ thành 10 lớp con, các lớp con lại được chia tiếp thành các lớp chi tiết theo nguyên tắc thập tiến. Ngoài ra DDC còn có 7 bảng phụ trợ.

v Khung phân loại UDC: Cấu trúc của UDC gồm bảng chính phân chia tri thức của nhân loại thành 10 lớp chính từ 0-9 riêng lớp 4 để trống. UDC có 7 bảng phụ chia làm 2 loại: Các bảng trợ ký hiệu chung và các bảng trợ ký hiệu chuyên ngành

v Khung phân loại BBK: Ra đời năm 1960 do Thư viện quốc gia Nga biên soạn. Cấu trúc của BBK gồm 28 lớp cơ bản sử dụng 28 chữ cái tiếng Nga và các chữ số ả rập

v Khung phân loại Thư viện quốc hội Mỹ – LCC: Ra đời năm 1902-1920 do Thư viện quốc hội Mỹ biên soạn. LCC phân chia tri thức của nhân loại thành 21 lớp cơ bản sử dụng 21 chữ cái tiếng Anh làm ký hiệu. Trong đó có 05 chữ cái: I, O, W, X, Y còn để trống dự kiến sẽ dành cho các ngành khoa học mới sẽ phát triển trong tương lai. Lần đầu xuất bản LCC có 34 tập, sau nhiều lần tái bản bổ sung đến nay đã lên tới 42 tập

v Khung phân loại dùng cho các thư viện khoa học tổng hợp: Do Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp với chuyên gia thư viện học Liên xô nghiên cứu phát triển để áp dụng vào hoàn cảnh Việt Nam. Cấu trúc bảng chính chia tri thức của nhân loại thành 19 lớp và có hệ thống các bảng trợ ký hiệu gồm 04 bảng: hình thức, hiệu địa lý, ngôn ngữ, phân tích. Cấu tạo ký hiệu phân loại là sự kết hợp hỗn hợp giữa chữ và số ở nhiều đề mục, về cơ bản tuân thủ nguyên tắc thập tiến.

1.3 Lý do lựa chọn LCC của Thư viện Đại học Bách khoa

1.3.1 Tiêu chí lựa chọn khung phân loại :

Tính khoa học: Thể hiện ở cấu trúc chặt chẽ dựa trên nền tảng phân loại khoa học, thể hiện mối liên quan hữu cơ cũng như ranh giới các ngành khoa học. Các đề mục phân bố đều thể hiện đầy đủ các lĩnh vực tri thức bằng những cấu trúc hợp lý.

Tính hiện đại: Khung phân loại phải phản ánh được hiện trạng khoa học với những thành tựu mới nhất, có khả năng tiên đoán và dành chỗ cho những ngành khoa học mới sẽ xuất hiện trong tương lai và phải được cập nhật thường xuyên.

Cấu trúc ký hiệu phân loại: Khoa học, đơn giản, phổ cập, thống nhất về hình thức, tạo ra tính mềm dẻo có khả năng dễ nhớ và dễ sử dụng.

Hệ thống hỗ trợ: Có những chỉ dẫn kỹ lưỡng, có hệ thống chỉ chỗ các mối quan hệ giữa các đề mục, có hướng dẫn chi tiết cho người sử dụng.

Bảng tra chủ đề: Phản ánh đầy đủ các khái niệm có trong khung phân loại

1.3.2. Lí do lựa chọn

Với nhu cầu chia sẻ thông tin ngày càng cao, các thư viện hay các cơ quan thông tin khác nhau trên thế giới dù lớn hay nhỏ dù muốn hay không đều phải tuân thủ những chuẩn chung để tồn tại trong thế giới hội nhập. Đối với chuẩn thư tịch về phân loại thư viện, hai khung phân loại được cho là tiêu biểu hiện nay là :

Khung phân loại thập phân Dewey – DDC dùng cho thư viện công cộng và thư viện trường học

Khung phân loại thư viện Quốc hội Hoa Kì – LCC ban đầu được thiết kế cho thư viện Quốc hội Hoa Kì, nhưng ngày càng được phổ biến rộng rãi và hiện nay đã trở thành khung phân loại được sử dụng nhiều nhất trong hệ thống thư viện đại học và viện nghiên cứu trên thế giới

Ở Hoa kì, người ta gọi hai khung này là hoàng đế và nữ hoàng đã và đang thống trị trong vương quốc phân loại thư viện hàng chục năm nay (Eleanor S. Y. lo). Ngày nay hai khung này đã vượt ra khỏi biên giới Hoa Kì song hành với nhau chiếm lĩnh vị trí quan trọng về dữ liệu thư tịch (Bibliogrphic data) trong những kho tin cũng như cơ sở dữ liệu khổng lồ trên thế giới

Tuy nhiên LCC được đánh giá là khung phân loại có nhiều ưu điểm vượt trội so với DDC và đặc biệt phù hợp với thư viện các trường đại học, các viện nghiên cứu có vốn tài liệu chuyên ngành sâu. Ưu điểm đó của LCC được thể hiện ở những khía cạnh sau:

· Việc phân chia tri thức của nhân loại thành 21 lớp dựa trên 21 chữ cái kết hợp với 9999 số Ả rập tạo nên sự chi tiết hoá cao trong việc phân chia các đề mục. Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân loại tài liệu một cách chi tiết, chính xác, khoa học. Một phần của bảng trích rút dữ liệu của 3 ngôn ngữ DDC, LCC, Subject heading, đề mục chủ đề dưới đây cho thấy sự chi tiết hóa trong việc phân chia các đề mục của LCC so với DDC. Với những đề mục khác nhau DDC vẫn thể hiện bởi 1 ký hiệu phân loại, trong khi đó LCC thể hiện bằng hệ thống các ký hiệu khác nhau :

DDC

LCC

Subject Heading

Đề mục chủ đề

621.31242

TK2896-2986

Electric batteries

Ắc quy điện

621.31242

TK2941

Storage batteries

Bình ắc quy

621.314

TK2551

Electric transformers

Máy biến thế

621.314

TK7872.T7

Electronic transformers

Các máy biến thế điện tử

621.317

TK2861

Differential relays

Rơ le vi sai

621.317

TK2842

Electric circuit-breakers

Cầu giao

621.317

TK2861

Electric contactors

Công tắc điện

621.317

TK2851

Electric rheostats

Biến trở

621.317

TK2821-2846

Electric switchgear

Cơ cấu đóng mạch điện

621.319

TK3001-3521

Electric power distribution

Phân bố điện năng

621.319

TK3091

Electric power failures

Các trường hợp hỏng điện

621.319

TK3001-3521

Electric power transmission

Truyền tải điện

· Sự mềm dẻo trong cấu trúc LCC thể hiện ở khả năng cập nhật dễ dàng các đề mục: 5 chữ cái còn lại (: I, O, W, X, Y) và các khoảng trống của các số Ả rập tạo điều kiện thuận lợi cho việc bổ sung các ngành khoa học và đề mục mới trong tương lai mà không làm ảnh hưởng đến cấu trúc chung của toàn hệ thống. Đây là ưu điểm nổi bật mà các khung phân loại khác không có.

· Có tính hội nhập cao: LCC ra đời từ hơn 100 năm nay với mục đích ban đầu là để phục vụ cho Thư viện Quốc hội Mỹ, nhưng do sự tiện lợi, tiện ích nó mang lại, ngày nay rất nhiều thư viện trên thế giới đã đưa vào sử dụng. Trong khu vực châu Á, LCC được áp dụng rộng rãi tại các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản… Tại Thái Lan, nhiều thư viện đã và đang từng bước chuyển đổi sang sử dụng khung phân loại này.

· Cấu tạo kí hiệu khoa học, đơn giản và dễ nhớ

Ký hiệu phân loại LC là sự kết hợp cả chữ và số: 1, 2 hoặc 3 chữ cái hoa và tiếp theo là đến các số nguyên từ 1-9999, với phần mở rộng thập phân hoặc các phần mở rộng khác để chia nhỏ chủ đề. Tiếp đến là sự kết hợp với chỉ số Cutter.

Minh hoạ về sự kết hợp trong ký hiệu phân loại LC:

· Tri thức khoa học của nhân loại được thể hiện ở sự đầy đủ và chi tiết qua các đề mục chủ đề : khung phân loại lên tới 42 tập

· LCC có phần mở rộng nằm luôn trong bảng chính, đó là một đặc điểm khác biệt so với các khung phân loại khác. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ dễ dàng tìm được kí hiệu phân loại thích hợp cho tài liệu mà không cần phải tiến hành quá nhiều các thao tác xây dựng kí hiệu phân loại. Từ nhiều năm nay, tổ chức biên mục quốc tế lớn nhất thế giới OCLC đã chính thức đưa ký hiệu phân loại LCC vào hệ thống cơ sở dữ liệu của mình. Đoạn trích rút dữ liệu với chủ đề mỹ học như một minh chứng cho sự giản dị hơn rất nhiều giữa ký hiệu phân loại của LCC và DDC.

Độ đơn giản của kí hiệu phân loại LCC so với DDC

Chủ đề Mỹ học

DDC

LC

Subject Heading

Đề mục chủ đề

111.85

BH

Aesthetics

Mỹ học

111.8503

BH56

Aesthetics-Dictionaries

Mỹ học – Từ điển

111.8505

BH1

Aesthetics-Periodicals

Mỹ học – Ấn phẩm định kỳ

111.8506

BH19

Aesthetics-Congresses

Mỹ học – Thảo luận

111.85071

BH61

Aesthetics-Study and teaching

Mỹ học – Nghiên cứu và giảng dạy

111.8509

BH81

Aesthetics-History

Mỹ học – Lịch sử

111.850901

BH91

Aesthetics, Ancient

Mỹ học, Cổ đại

111.850902

BH131

Aesthetics, Medieval

Mỹ học, Trung đại

111.850903

BH151

Aesthetics, Modern

Mỹ học, Hiện đại

111.8509031

BH161

Aesthetics, Modern-16th century

Mỹ học, Hiện đại – Thế kỷ 16

111.8509032

BH171

Aesthetics, Modern-17th century

Mỹ học, Hiện đại – Thế kỷ 17

111.8509033

BH181

Aesthetics, Modern-18th century

Mỹ học, Hiện đại – Thế kỷ 18

111.8509034

BH191

Aesthetics, Modern-19th century

Mỹ học, Hiện đại – Thế kỷ 19

111.850904

BH201

Aesthetics, Modern-20th century

Mỹ học, Hiện đại – Thế kỷ 20

II. Áp dụng khung phân loại LC tại thư viện ĐHBK HN

2.1. Công tác chuẩn bị

Lựa chọn cán bộ phân loại:

Có kiến thức chung rộng, thông thạo các thuật ngữ khoa học.

Thông thạo các ngoại ngữ thông dụng.

Thành thạo máy tính, kỹ năng khai thác mạng và sử dụng tốt các tài liệu tra cứu.

Thông thạo cấu trúc khung phân loại.

Có phương pháp luận phân loại và tư duy lô gích về các ngành khoa học liên quan.

Biết kế thừa kinh nghiệm, cập nhật kiến thức và cẩn thận chính xác trong công việc.

Nghiên cứu khung phân loại: Thành lập nhóm nghiên cứu:

– Cấu trúc khung phân loại

– Cấu trúc các lớp.

– Cấu trúc của hệ thống ký hiệu.

– Các bảng tra.

– Các tài liệu hưóng dẫn…

Xây dựng qui trình phân loại theo LCC

Phân loại nói chung và phân loại theo LCC nói riêng là định vị tài liệu trong khung phân loại sao cho đúng đắn, có lợi nhất cho bạn đọc và khi cần thiết thì nhanh chóng tiếp cận hoặc thống kê dễ dàng từ các bộ máy tra cứu. Muốn làm được điều này sau khi nghiên cứu kỹ về khung phân loại cần xây dựng một qui trình khoa học và phù hợp.

 

2.2. Qui mô áp dụng và cách thức tiến hành

Qui mô áp dụng: Vốn tài liệu của thư viện gồm 600.000 bản, với khoảng 110.000 đầu mục. Việc tiến hành phân loại lại toàn bộ kho tài liệu này đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn. Vì vậy, việc hoạch định lập kế hoạch và áp dụng chuyển đổi là hết sức quan trọng. Qua nghiên cứu thực tế việc chuyển đổi phân loại của một số thư viện trên thế giới cũng như trong nước và nghiên cứu điều kiện thực tế của Thư viện trường ĐHBK Hà Nội, giải pháp đưa ra là chỉ chuyển đổi áp dụng LCC cho những tài liệu mới nhập về Thư viện, từ năm 1990 đến nay. Đây là số tài liệu dự kiến sẽ tổ chức các phòng đọc mở tự chọn trong toà nhà mới. Các phòng đọc mở tự chọn sẽ tổ chức theo kí hiệu của LCC

Cách thức tiến hành:

– Đối với các tài liệu tiếng Việt tiến hành theo qui trình phân loại chung (03 bước):

+ Phân tích nội dung tài liệu

+ Xác định nội dung tài liệu

+ Xác định ký hiệu phân loại

– Đối với các tài liệu tiếng Anh và ngôn ngữ khác:

+ Căn cứ vào chỉ số ISBN và các thông tin khác tra tìm trong các cơ sở dữ liệu của Thư viện Quốc hội Mỹ, Tổ chức OCLC và các cơ sở dư liệu khác để rút ký hiệu phân loại.

+ Trường hợp những tài liệu không thể tìm thấy từ các cơ sở dữ liệu của các thư viện, thì bắt buộc phải tiến hành theo qui trình chung.

2.3. Đánh giá kết quả phân loại

Đánh giá kết quả phân loại sau thời gian áp dụng LCC là công việc quan trọng, từ đó rút ra kinh nghiệm thực tế và có những điều chỉnh kịp thời nhằm tối ưu hoá quá trình áp dụng LCC. Việc đánh giá được thực hiện trên các bình diện sau:

– Khảo sát đánh giá trực tiếp trên cơ sở dữ liệu, các biểu ghi hiện hành.

– Đánh giá qua cán bộ làm công tác phân loại: tố chức hội thảo trao đổi rút kinh nghiệm

– Đánh giá qua người dùng tin: Phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu thăm dò ý kiến.

Sau quá trình tiến hành phân loại thực tế cho gần 30.000 đầu sách, nhóm nghiên cứu đã rút ra một số đánh giá nhận xét như sau:

  • LCC đã đáp ứng các tiêu chí lựa chọn
  • LCC đáp ứng được công tác phân loại tài liệu đối với vốn tài liệu của Thư viện Trường ĐHBK HN
  • Rút ngắn thời gian xử lý tài liệu
  • Chuẩn hoá dữ liệu tạo điều kiện tích hợp và chia sẻ CSDL với các thư viện khác.
  • Tổ chức nguồn lực thông tin dạng kho mở theo khung phân loại LC đã tạo điều kiện thuận lợi cho bạn đọc trong việc tìm kiếm, tiếp cận tài liệu.
  • Hệ thống ký hiệu phân loại LC được xây dựng trong CSDL điện tử đã được đưa vào sử dụng trở thành công cụ tốt cho bạn đọc tra tìm tài liệu, và rất hữu ích cho cán bộ thư viện trong việc thống kê tài liệu theo từng chuyên ngành.

2.4. Thuận lợi, khó khăn sau quá trình áp dụng LCC tại Thư viện ĐHBK HN

Thuận lợi:

  • Với nhiều ưu điểm, LCC đã giải quyết được cơ bản các tồn tại của khung phân loại 19 lớp, thuận lợi cho cán bộ phân loại trong việc tìm những ký hiệu thích hợp, đặc biệt bảng phân loại LC thường xuyên được cập nhật, bổ sung nên theo sát sự thay đổi của các ngành khoa học, các lĩnh vực tri thức mới xuất hiện.
  • Tài liệu chuyên ngành của thư viện ĐHBK chủ yếu tập trung trong hai cuốn là Q và T (Khoa học và công nghệ ) của LCC nên thuận tiện cho cán bộ phân loại tài liệu.
  • Việc lồng ghép các bảng tra vào các bảng chính đã tạo điều kiện thuận lợi dễ sử dụng, rút ngắn thời gian tìm kiếm cho cán bộ phân loại.
  • Vì LCC là khung phân loại mang tính quốc tế đuợc nhiều Thư viện sử dụng nên trong quá trình tiến hành phân loại, nhóm nghiên cứu đã tra cứu qua các cơ sở dữ liệu của các thư viện khác với tỷ lệ 95% đối với tài liệu tiếng Anh, 5% đối với các ngôn ngữ khác. Tỷ lệ trên đã tiết kiệm được khá nhiều công sức cho cán bộ phân loại.

Khó khăn:

  • LCC là một khung phân loại đồ sộ lại chưa được Việt hoá nên bước đầu sử dụng còn gặp nhiều khó khăn, kinh nghiệm về sử dụng LCC chưa nhiều.
  • Sự khác biệt về cách kết hợp ký hiệu phân loại giữa LCC và khung phân loại 19 lớp bước đầu tạo ra bỡ ngỡ cho cán bộ phân loại.
  • Khung phân loại LC được tạo ra với mục đích chủ yếu là phục vụ cho các thư viện tại Mỹ nên mang nặng tính chủ quan của Mỹ, nhất là về các lĩnh vực nhạy cảm như chính trị, xã hội nên gây khó khăn cho cán bộ phân loại khi xử lý các tài liệu này.

2.5 Kết luận

LCC ra đời góp phần không nhỏ vào sự phát triển chuẩn hoá công tác phân loại tài liệu thư­ viện, giúp cho việc định ký hiệu phân loại và tra cứu tài liệu đư­ợc thuận lợi dễ dàng hơn, đặc biệt là tra cứu trong lĩnh vực chuyên ngành vì nó như­ một tập hợp của các bảng phân loại chuyên ngành độc lập tách rời nhau. LCC ngày càng khẳng định được ưu thế vượt trội so các Bảng phân loại khác, đã và đang được sử dụng rộng rãi tại Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới.

Tại Việt Nam, Thư viện trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là thư viện đầu tiên sử dụng LCC. Việc sử dụng Bảng phân loại này giúp cho thư viện hoàn thiện quá trình phân loại tài liệu và tổ chức bộ máy tra cứu tìm tin theo ký hiệu phân loại LC, từ đó phục vụ bạn đọc ngày càng tốt hơn. Tuy bước đầu sử dụng còn gặp khó khăn, nhưng với sự nỗ lực học hỏi không ngừng, quyết tâm của đội ngũ cán bộ nghiệp vụ vững về chuyên môn và lòng yêu nghề sâu sắc, chúng tôi đã khẳng định LCC được áp dụng rất hiệu quả tại thư viện Bách khoa, mở ra một thời kỳ mới, một bước đột phá trong việc sử dụng các khung phân loại mới tại Việt Nam. Cùng với bảng phân loại mới và quá trình áp dụng các chuẩn nghiệp vụ tiên tiến trong hoạt động, Thư viện Đại học Bách Khoa sẽ trở thành một thư viện tiên tiến, hiện đại trong hệ thống thư viện các trường đại học không chỉ trong nước mà còn cả trong khu vực và trên thế giới.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Nguyễn Minh Hiệp. Thực hành phân loại DDC và LCC .- Giáo dục, Tp Hồ Chí Minh, 2010

2. Vũ Dương Thuý Ngà. Phân loại tài liệu.- Trường Đại học văn hoá Hà Nội, 2004

Tiếng Anh

3. Lois, Mai Chan. A guide to the Library of Congress Classification.- Libraries Unlimited: United States of America, 1999

4. Conversion Tables LC – DDC – Subject Headings, Washington: LC, 2002,

5. Evans G. E. Introduction to Technical Services Evans.- Libraries Unlimited: United States of America, 2002

6. Library of Congress Classification: Outline .- Washington: LC, 2005.

7. Library Congress Subject Headings .- Washington: LC, 2005, Vol: 1-5.

8. http://Catalog.loc.gov


 

ThS. Hà thị Huệ – Trưởng phòng xử lý thông tin

Thư viện Tạ Quang Bửu – Trường ĐHBK HN